Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc đông y. Hiển thị tất cả bài đăng
Hoa Hòe có thể chữa bệnh ung thư
Đến các tỉnh Thái Bình, Nam Định, ngoài cánh đồng lúa bạt ngàn, người ta còn thấy chi chít những cây hoa hòe mọc lên xanh mướt. Dân gian thường lấy nụ hoa hòe phơi khô để đun nước uống giải nhiệt, hạ mỡ máu, chữa các bệnh về cao huyết áp, trị độc nhọt lở sưng tấy… Nhưng mấy ai biết rằng, hoa Hòe còn có thể chữa bệnh ung thư đại tràng, ung thư máu và thổ huyết do ung thư dạ dày.
1. Vì sao hoa Hòe có thể chữa ung thư
Hòe là cây thân gỗ, cao có thể lên đến 15 mét, thân thẳng, chỏm lá tròn, cành cong queo, lá kép, cụm hoa hình chùy ở đầu cành, tràng hoa hình bướm màu trắng ngà. Ðài hoa hình chuông, màu vàng xám. Quả Hòe loại đậu, không mở, dày và thắt nhỏ lại ở giữa các hạt. Nụ hoa hình trứng, có cuống nhỏ, ngắn, một đầu hơi nhọn, dài 3 - 6mm, rộng 1 - 2mm màu vàng xám. Hoa chưa nở dài từ 4 - 10mm, đường kính 2 - 4 mm. Cánh hoa chưa nở màu vàng, mùi thơm, vị hơi đắng. Hòe trồng cây lấy nụ hoa và quả làm thuốc chữa được nhiều bệnh, song chủ yếu dược liệu dùng nụ hoa. Nụ hoa hoè tính hơi lạnh, có nhiều công dụng như hạ mỡ máu, chống viêm, chống co thắt và chống loét, chống tiêu chảy, cao huyết áp, đau mắt; tác dụng tốt với hệ tim mạch, chữa các chứng chảy máu như chảy máu cam, ho ra huyết, băng huyết, đại tiểu tiện ra máu...
Trong thành phần hóa học của hoa hòe chứa khoảng 34% Rutin, 4,3% rutin, 8-24% chất béo và galactormanan. Bên cạnh đó là các Flavonoid, bertulin, sophorin A, sophorin B và sophorin C. Vỏ quả chứa 10,5% flavonoid toàn phần và một số dẫn xuất như genistein, sophori cosid, sophorabioside, kaempferol, glucoside C. Hạt hòe chứa 1,75% flavonoid, 0,5% rutin, một số alkaloid, cytisin, N-methy cytisin, sophocamin, matrin.
Rutin là Glycosid của Quercetin và đường Rutinose có trong nụ hoa hòe có tác dụng chống lại chất phóng xạ, hấp thụ tia tử ngoại. Rutin còn có tác dụng rất tốt trong điều trị các bệnh viêm gan siêu vi B, C (nguyên nhân hàng đầu gây ung thư gan), giúp tăng cường sức đề kháng cho những người có cơ địa gầy yếu, suy nhược cơ thể, lao xơ nhiễm phổi, ung thư giai đoạn cuối,… làm giảm độc tính của các hóa chất trị liệu ung thư.
Quercetin có trong hoa Hòe chiếm tỷ lệ lớn và là một Flavonoid có hoạt tính mạnh nhất so với các flavonoid khác. Quercetin có tác dụng chống Oxy hóa, chống viêm, làm giảm sự tăng sinh không kiểm soát tế bào và gây chết tế bào theo lập trình trước đó của cơ thể, do đó chống lại các tế bào u, ung thư gan, đại tràng, phổi... Hòe hoa có thể được sử dụng kết hợp với thuốc hóa trị điều trị ung thư trên các tế bào ung thư biểu mô buồng trứng ở người. Ngoài ra, chất quercetin cũng được dùng để hỗ trợ điều trị bệnh nhân ung thư vú, ức chế tạo thành cụm tế bào ở bệnh nhân ung thư máu,…
Ngoài ra, Rutin – Quercetin còn có tác dụng khác được ứng dụng nhiều trong điều trị bệnh như: Tăng sức đề kháng, giảm tính thẩm thấu mao mạch, phục hồi tính đàn hồi của mao mạch làm giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và đột quỵ, chống viêm, hạ huyết áp, hạ Cholesterol máu, chống ngưng kết tiểu cầu, cải thiện tuần hoàn máu, chống co thắt cơ trơn, bảo vệ tế bào gan, chống dị ứng và kháng khuẩn kháng virus.
Các bộ phận dùng để làm thuốc từ cây hòe bao gồm: Nụ hòe (Hòe mễ), hoa hòe (Hòe hoa) và quả hòe (Hòe giác) có tác dụng gần như tương đồng nhưng cũng có một số khác biệt nhất định.
Theo Đông y: Hòe mễ và Hòe hoa có vị đắng tính mát. Có tác dụng lương huyết (mát máu), chỉ huyết (cầm máu), thanh can. Thường dùng chữa các chứng xuất huyết: Tiện huyết (đại tiện ra máu), niệu huyết (tiểu ra máu), ly huyết (kiết ly phản lẫn máu), thổ huyết khạc huyết (nôn ra máu, khạc ra máu), nục huyết (chảy máu cam), can nhiệt mục xích (mắt đỏ do tạng can nhiệt), đầu thống huyễn vựng (đau đầu choáng váng), còn dùng đế phòng trúng phong (tai biến mạch máu não).
Hòe giác có vị đắng, tính hàn. Có tác dụng lương huyết, chỉ huyết, nhuận can, thanh nhiệt tả hỏa. Thường dùng chữa trường phong tả huyết (viêm ruột tiêu chảy phân lẫn máu), Trĩ huyết băng lậu, huyết lâm (tiếu tiện nhỏ giọt lẫn máu), tâm hung phiến muộn (vùng tim ngột ngạt khó chịu), phong huyễn dục đảo (choáng váng muốn ngã lăn), âm sang thấp dương (lở ngứa ở hạ bộ).
2. Hoa hòe chữa ung thư
- Bài thuốc chữa Ung thư đại tràng:
+ Dùng Hòe giác 15g, Mã xỉ hiện (rau sam) 15g, Tiên hạc thảo 15g, Bạch anh 5g, Hoàng tinh 15g, Cẩu kỷ tử 15g, Kê huyết đằng 15g, Hoàng kỳ 30g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần.
+ Hoa hòe, Trắc bá diệp, Kinh giới tuệ, Chỉ xác lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, mỗi lần uống 6g với nước cơm. Ngày 2 lần.
+ Hoa hòe sống 15g, Hoa hòe sao 15 g, Chi tử 30g tán bột, uống mỗi lần 6 g. Ngày 2 lần.
+ Hòe hoa 15g, Hòe giác 15g, Hoạt thạch 15 g, Sinh địa 12g, Kim ngân hoa 12g, Đương quy 12 g, Hoàng cầm 10g, Hoàng liên 10g, Hoàng bá 10 g, Thăng ma 6g, Sài hồ 6g, Chỉ xác 6g, Cam thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Bài thuốc chữa Ung thư máu: Hòe hoa 6g, Dừa cạn 12g. Sắc uống ngày một thang thay nước chè.
- Bài thuốc chữa Thổ huyết do ung thư dạ dày: Hòe hoa 12g, Bách thảo sương 4g. Tán bột, uống với nước sắc rễ Bạch mao căn 12g. Ngày 1 lần.
Bác sĩ Thùy Ngân - Phương Oanh (phòng khám Thọ Xuân Đường)
*Lưu ý: Các bài thuốc chỉ mang tính chất tham khảo, bệnh nhân không nên tự ý sử dụng khi chưa có ý kiến của thầy thuốc.
1. Vì sao hoa Hòe có thể chữa ung thư
Hòe là cây thân gỗ, cao có thể lên đến 15 mét, thân thẳng, chỏm lá tròn, cành cong queo, lá kép, cụm hoa hình chùy ở đầu cành, tràng hoa hình bướm màu trắng ngà. Ðài hoa hình chuông, màu vàng xám. Quả Hòe loại đậu, không mở, dày và thắt nhỏ lại ở giữa các hạt. Nụ hoa hình trứng, có cuống nhỏ, ngắn, một đầu hơi nhọn, dài 3 - 6mm, rộng 1 - 2mm màu vàng xám. Hoa chưa nở dài từ 4 - 10mm, đường kính 2 - 4 mm. Cánh hoa chưa nở màu vàng, mùi thơm, vị hơi đắng. Hòe trồng cây lấy nụ hoa và quả làm thuốc chữa được nhiều bệnh, song chủ yếu dược liệu dùng nụ hoa. Nụ hoa hoè tính hơi lạnh, có nhiều công dụng như hạ mỡ máu, chống viêm, chống co thắt và chống loét, chống tiêu chảy, cao huyết áp, đau mắt; tác dụng tốt với hệ tim mạch, chữa các chứng chảy máu như chảy máu cam, ho ra huyết, băng huyết, đại tiểu tiện ra máu...
Trong thành phần hóa học của hoa hòe chứa khoảng 34% Rutin, 4,3% rutin, 8-24% chất béo và galactormanan. Bên cạnh đó là các Flavonoid, bertulin, sophorin A, sophorin B và sophorin C. Vỏ quả chứa 10,5% flavonoid toàn phần và một số dẫn xuất như genistein, sophori cosid, sophorabioside, kaempferol, glucoside C. Hạt hòe chứa 1,75% flavonoid, 0,5% rutin, một số alkaloid, cytisin, N-methy cytisin, sophocamin, matrin.
Rutin là Glycosid của Quercetin và đường Rutinose có trong nụ hoa hòe có tác dụng chống lại chất phóng xạ, hấp thụ tia tử ngoại. Rutin còn có tác dụng rất tốt trong điều trị các bệnh viêm gan siêu vi B, C (nguyên nhân hàng đầu gây ung thư gan), giúp tăng cường sức đề kháng cho những người có cơ địa gầy yếu, suy nhược cơ thể, lao xơ nhiễm phổi, ung thư giai đoạn cuối,… làm giảm độc tính của các hóa chất trị liệu ung thư.
Quercetin có trong hoa Hòe chiếm tỷ lệ lớn và là một Flavonoid có hoạt tính mạnh nhất so với các flavonoid khác. Quercetin có tác dụng chống Oxy hóa, chống viêm, làm giảm sự tăng sinh không kiểm soát tế bào và gây chết tế bào theo lập trình trước đó của cơ thể, do đó chống lại các tế bào u, ung thư gan, đại tràng, phổi... Hòe hoa có thể được sử dụng kết hợp với thuốc hóa trị điều trị ung thư trên các tế bào ung thư biểu mô buồng trứng ở người. Ngoài ra, chất quercetin cũng được dùng để hỗ trợ điều trị bệnh nhân ung thư vú, ức chế tạo thành cụm tế bào ở bệnh nhân ung thư máu,…
Ngoài ra, Rutin – Quercetin còn có tác dụng khác được ứng dụng nhiều trong điều trị bệnh như: Tăng sức đề kháng, giảm tính thẩm thấu mao mạch, phục hồi tính đàn hồi của mao mạch làm giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và đột quỵ, chống viêm, hạ huyết áp, hạ Cholesterol máu, chống ngưng kết tiểu cầu, cải thiện tuần hoàn máu, chống co thắt cơ trơn, bảo vệ tế bào gan, chống dị ứng và kháng khuẩn kháng virus.
Các bộ phận dùng để làm thuốc từ cây hòe bao gồm: Nụ hòe (Hòe mễ), hoa hòe (Hòe hoa) và quả hòe (Hòe giác) có tác dụng gần như tương đồng nhưng cũng có một số khác biệt nhất định.
Theo Đông y: Hòe mễ và Hòe hoa có vị đắng tính mát. Có tác dụng lương huyết (mát máu), chỉ huyết (cầm máu), thanh can. Thường dùng chữa các chứng xuất huyết: Tiện huyết (đại tiện ra máu), niệu huyết (tiểu ra máu), ly huyết (kiết ly phản lẫn máu), thổ huyết khạc huyết (nôn ra máu, khạc ra máu), nục huyết (chảy máu cam), can nhiệt mục xích (mắt đỏ do tạng can nhiệt), đầu thống huyễn vựng (đau đầu choáng váng), còn dùng đế phòng trúng phong (tai biến mạch máu não).
Hòe giác có vị đắng, tính hàn. Có tác dụng lương huyết, chỉ huyết, nhuận can, thanh nhiệt tả hỏa. Thường dùng chữa trường phong tả huyết (viêm ruột tiêu chảy phân lẫn máu), Trĩ huyết băng lậu, huyết lâm (tiếu tiện nhỏ giọt lẫn máu), tâm hung phiến muộn (vùng tim ngột ngạt khó chịu), phong huyễn dục đảo (choáng váng muốn ngã lăn), âm sang thấp dương (lở ngứa ở hạ bộ).
2. Hoa hòe chữa ung thư
- Bài thuốc chữa Ung thư đại tràng:
+ Dùng Hòe giác 15g, Mã xỉ hiện (rau sam) 15g, Tiên hạc thảo 15g, Bạch anh 5g, Hoàng tinh 15g, Cẩu kỷ tử 15g, Kê huyết đằng 15g, Hoàng kỳ 30g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần.
+ Hoa hòe, Trắc bá diệp, Kinh giới tuệ, Chỉ xác lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, mỗi lần uống 6g với nước cơm. Ngày 2 lần.
+ Hoa hòe sống 15g, Hoa hòe sao 15 g, Chi tử 30g tán bột, uống mỗi lần 6 g. Ngày 2 lần.
+ Hòe hoa 15g, Hòe giác 15g, Hoạt thạch 15 g, Sinh địa 12g, Kim ngân hoa 12g, Đương quy 12 g, Hoàng cầm 10g, Hoàng liên 10g, Hoàng bá 10 g, Thăng ma 6g, Sài hồ 6g, Chỉ xác 6g, Cam thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Bài thuốc chữa Ung thư máu: Hòe hoa 6g, Dừa cạn 12g. Sắc uống ngày một thang thay nước chè.
- Bài thuốc chữa Thổ huyết do ung thư dạ dày: Hòe hoa 12g, Bách thảo sương 4g. Tán bột, uống với nước sắc rễ Bạch mao căn 12g. Ngày 1 lần.
Bác sĩ Thùy Ngân - Phương Oanh (phòng khám Thọ Xuân Đường)
*Lưu ý: Các bài thuốc chỉ mang tính chất tham khảo, bệnh nhân không nên tự ý sử dụng khi chưa có ý kiến của thầy thuốc.
Tác dụng chữa bệnh của lá ổi
Lá ổi có chứa tinh dầu, trong đó có alpha-limonen, bêta-sitosterol, acid maslinic, acid guajavalic. Trong lá ổi non và búp non còn có 7-10% tanin pyrogalic, khoảng 3% nhựa là những hoạt chất có tính kháng khuẩn.
Theo lương y Đinh Công Bảy, lá ổi thường được dùng làm thuốc chữa tiêu chảy do có chứa nhiều tanin, giúp làm se niêm mạc ruột, làm giảm tiết dịch, giảm nhu động ruột và có tác dụng kháng khuẩn. Sau đây là một số cách dùng ổi chữa bệnh:
Chữa tiêu chảy: Nếu tiêu chảy do lạnh, dùng búp ổi hoặc lá ổi non 12-20g (sao sơ), gừng nướng 10g hoặc củ riềng khô 10-12g, vỏ quýt khô 10-12g. Nấu các loại trên với 500 ml nước, sắc còn 200 ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn. Nếu tiêu chảy do nhiệt, dùng búp ổi, lá ổi non hoặc vỏ rộp cây ổi 12-20g, củ sắn dây khô 20g, lá chè tươi 12g, lá mã đề hoặc rau diếp cá 12g. Sắc uống như trên. Trong cả hai trường hợp, có thể thêm ít đường cho dễ uống.
Chữa viêm dạ dày-ruột cấp tính: Lá ổi non 30g cắt nhỏ, sao chung với một nắm gạo (gạo lứt càng tốt), sau đó cho 500 ml nước vào, sắc còn 200 ml, lọc lấy nước chia 2 lần uống vào lúc đói bụng.
Chữa giời leo (zona): Dùng búp ổi non 100g, rửa sạch, phèn chua 10g, muối 1g. Cho tất cả vào cối sạch giã nhỏ, thêm ít nước sạch vào trộn đều. Dùng nước thuốc này để bôi lên chỗ đau.
Chữa vết thương chảy máu, vết loét, bầm giập do chấn thương: Lá ổi tươi rửa thật sạch với nước muối, giã nát nhuyễn, đắp lên chỗ đau.
An Hà (ghi)
Theo lương y Đinh Công Bảy, lá ổi thường được dùng làm thuốc chữa tiêu chảy do có chứa nhiều tanin, giúp làm se niêm mạc ruột, làm giảm tiết dịch, giảm nhu động ruột và có tác dụng kháng khuẩn. Sau đây là một số cách dùng ổi chữa bệnh:
Chữa tiêu chảy: Nếu tiêu chảy do lạnh, dùng búp ổi hoặc lá ổi non 12-20g (sao sơ), gừng nướng 10g hoặc củ riềng khô 10-12g, vỏ quýt khô 10-12g. Nấu các loại trên với 500 ml nước, sắc còn 200 ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn. Nếu tiêu chảy do nhiệt, dùng búp ổi, lá ổi non hoặc vỏ rộp cây ổi 12-20g, củ sắn dây khô 20g, lá chè tươi 12g, lá mã đề hoặc rau diếp cá 12g. Sắc uống như trên. Trong cả hai trường hợp, có thể thêm ít đường cho dễ uống.
Chữa viêm dạ dày-ruột cấp tính: Lá ổi non 30g cắt nhỏ, sao chung với một nắm gạo (gạo lứt càng tốt), sau đó cho 500 ml nước vào, sắc còn 200 ml, lọc lấy nước chia 2 lần uống vào lúc đói bụng.
Chữa giời leo (zona): Dùng búp ổi non 100g, rửa sạch, phèn chua 10g, muối 1g. Cho tất cả vào cối sạch giã nhỏ, thêm ít nước sạch vào trộn đều. Dùng nước thuốc này để bôi lên chỗ đau.
Chữa vết thương chảy máu, vết loét, bầm giập do chấn thương: Lá ổi tươi rửa thật sạch với nước muối, giã nát nhuyễn, đắp lên chỗ đau.
An Hà (ghi)
Bài thuốc đông y điều trị chứng liệt dương
1)Triệu chứng (TC) : Dương vật không cửng lên được, tinh lỏng tinh lạnh, lưng đau mỏi, cảm giác lạnh từ lưng trở xuống, đầu váng mắt hoa, sắc mặt trắng bệch, chân tay lạnh, sợ lạnh, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm trì tế nhược,
Chẩn đoán (CĐ) : Mệnh môn hỏa suy.
Phép chữa (PC) : Ôn bổ hạ nguyên, chấn dương khởi nuy.
Phương (P) : Tán dục đan [1] gia vị.
Dược (D) : Thục địa, Đông truật đều 16g, Đương quy, Kỷ tử đều 12g, Ba kích, Cửu tử, Dâm dương hoắc, Đỗ trọng, Nhục thung dung, Tiên mao đều 8g, Sơn thù, Xà sàng tử đều 4g, Nhục quế, Phụ tử chế đều 2g; + Cao Ban long 8g. Sắc uống.
P 2, D 2 : Hải cẩu thận 1 bộ, sấy, tán. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 3g.
P 3 : Ngoại trị
D 3 : Phụ tử chế 45g, Xuyên sơn giáp nướng 3g, Lưu huỳnh 6g. Tán, rây ; thêm 150 ml rượu quấy thành hồ, đổ vào nồi, đun nhỏ lửa đến khô, thêm 0,1 - 0,3g Xạ hương, trộn đều, nghiền tán lần cuối, cho vào lọ bịt kín. Lúc dùng, xúc 1 ít, thêm rượu thành hồ, làm bánh thuốc như hạt đậu, đặt trên vải, để trên các huyệt Thần khuyết, Trung cực, Khúc cốt, cố định bằng băng dính, 1 - 2 ngày thay thuốc 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
P 4 : Ngoại trị
D 4 : Ba kích, Dâm dương hoắc, Kim anh tử, Hồ lô ba đều 10g, Dương khởi thạch 12g, Sài hồ 6g. Tán cho vào túi vải để ở bụng dưới, 5 - 7 ngày thay thuốc 1 lần, 3 - 5 lần là 1 liệu trình.
2)CĐ : Thận tinh bất túc, mệnh môn hỏa hơi kém.
PC : Bổ thận ích tinh.
P 5 : Lục vị địa hoàng hoàn [2] (Tiểu nhi được chứng trực quyết; trị Can thận âm hư) hợp Ban long hoàn [3] (Y thống phương; trị tận tạng suy yếu, di tinh, dương nuy) gia giảm.
D 5: Thục địa 32g, Hoài sơn, Sơn thù nhục đều 16g, Đan bì, Phục linh, Trạch tả đều 12g; Cao Ban long, (-Thục địa), Thỏ ti tử, Bá tử nhân đêu 16g, Bổ cốt chi, Phục thần đều 8g; + Kỷ tử, Ba kích đều 12g.
3)TC : Dương vật không cửng không giao hợp được, tảo tiết, lưng gối yếu mỏi, sợ rét sợ lạnh, mệt mỏi thiếu lực, lưỡi nhạt, mạch trì nhược.
CĐ : Thận hư dương nuy.
PC : Tư thận điền tinh, tráng dương; thông lạc tẩu xuyên hứng dương .
P 6 : Tráng dương thang [4].
D 6: 1 bộ thận chó / sơn dương cả dái và hòn dái, Tử hà xa 50 - 100g, Hoàng kỳ, Thục địa, Dâm dương hoắc, Hoài sơn đều 30g, Dương khởi thạch, Ba kích, Kỷ tử, Phá cố chỉ, Tiên mao đều 15g, Bá tử nhân, Thạch xương bồ, Phụ tử, Nhục quế, Cam thảo đều 10g. Đun 2 nước, chia uống sáng tối, 2 liệu trình x 15 ngày.
Giải thích : Tử hà xa và Cẩu thận là huyết nhục hữu tình – bổ thận dương; Kỷ tử, Thục địa, Hoài sơn, Dâm dương hoắc, Dương khởi thạch, Phụ tử, Nhục quế – ôn bổ tráng dương, khiến mệnh môn hoả vượng, dương cử bất suy; Hoàng kỳ – ích khí; Thạch xương bồ, Bá tử nhân – thông khiếu an thần dưỡng tâm.
P 7, D 7 : Trứng chim sẻ 10 quả, Kỷ tử, Thỏ ty tử đều 15g. Thuốc sắc trước 30 phút, cho trứng đã luộc và bóc vỏ vào, đun thêm 15 phút. Ăn trứng húp nước thuốc.
4)TC : Tình dục suy giảm, tinh thần không phấn chấn, hồi hộp mất ngủ, sắc mặt vàng bủng, bụng chướng khó tiêu, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế.
CĐ : Tâm tỳ bị hư tổn.
PC : Bổ ích tâm Tỳ.
P 8: Quy tỳ thang [5] (Phụ nhân lương phương; trị tâm tỳ đều hư)
D 8: Đảng sâm 30g/ Nhân sâm, Hoàng kỳ, Đương quy, Bạch truật, Long nhãn, Phục thần, Táo nhân, Viễn chí đều 10g, Mộc hương 5g, Cam thảo 3g, Sinh khương 3 lát, Đại táo 2 quả.
Gia giảm (GG) :
-Bụng chướng khó tiêu lắm, thêm : Cốc nha, Đại phúc bì đều 12g để bổ kiêm sơ thông;
-Tạng phủ sa giáng – trung khí hạ hãm, thêm : Sài hồ, Thăng ma đều 12g để thăng dương cử hãm.
5)TC : Tinh thần u uất, ngực sườn chướng đầy, hay thở dài, hoặc dễ cáu nổi giận, chẳng muốn ăn uống, bụng đau tiện lỏng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền.
CĐ : Can khí uất kết.
PC : Sơ can giải uất, điều hòa khí huyết.
P 9 : Tiêu dao tán [6] (Hòa tễ cục phương; trị can uất huyết hư, viêm gan mạn thể can uất tỳ hư) gia vị.
D 9 : Sài hồ, Đương quy, Bạch thược, Phục linh, Bạch truật, Sinh khương đều 20g, Bạc hà 4g, Cam thảo 10g; + Thanh bì, Lộ lộ thông, Xuyên khung đều 8g.
GG :
-Nóng vội dễ cáu giận, miệng đắng họng khô – can uất hóa nhiệt, thêm : Đan bì, Chi tử đều 12g, Xuyên luyện tử 6g để thanh tiết can nhiệt;
-Bụng đau ỉa chảy – can tỳ bất điều, thêm : Trần bì, Phòng phong đều 12g để tán can sơ tỳ;
-Không muốn ăn uống, thêm : Hoa Hồng, Phật thủ đều 8g để sơ can khoái vị.
6)TC : Kinh khủng sợ hãi, đa nghi, ngủ không yên, chất lưỡi đỏ, mạch huyền tế.
CĐ : Kinh khủng hại thận.
PC : Ich thận ninh thần.
P 10 : Tuyên chí thang [7] gia vị.
D 10 : Phục linh, Xương bồ, Viễn chí, Táo nhân, Ba kích, Sài hồ, Đương quy, Nhân sâm, Hoài sơn, Bạch truật đều 10g, Cam thảo 6g; + Long sỉ, Thục địa, Thỏ ti tử, Tục đoạn, Ngưu tất đều 12g.
7)TC : Dương vật mềm nhũn, âm nang ẩm ngứa hôi, tiểu tiện vàng đỏ, miệng đắng dính, kém ăn ăn không tiêu, đại tiện xong vẫn không sảng khoái, hoặc phiền nhiệt không yên, tức bụng mạng sườn , chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác.
7)TC : Dương vật mềm nhũn, âm nang ẩm ngứa hôi, tiểu tiện vàng đỏ, miệng đắng dính, kém ăn ăn không tiêu, đại tiện xong vẫn không sảng khoái, hoặc phiền nhiệt không yên, tức bụng mạng sườn , chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác.
CĐ : Thấp nhiệt hạ chú.
PC : Thanh nhiệt lợi thấp.
P 11 : Long đởm tả can thang [8] (Lan thất bí tàng; trị can kinh hỏa bốc, can kinh thấp nhiệt khiến bộ phận sinh dục sưng ngứa đau) gia vị.
D 11 : Long đởm thảo, Hoàng cầm, Chi tử, Sài hồ, Mộc thông, Trạch tả, Sinh địa đều 12g, Xa tiền tử 6g, Đương quy, Cam thảo đều 3g: + Ngô công 4g, ý dĩ sống 30g, Thương truật 12g.
P 12 : Long đởm địa long khởi nuy thang [9].
D 12 : Long đởm thảo, Đương quy đều 15g, chế Đại hoàng, Sinh địa, Trạch tả, Sà sàng tử 12g, Địa long 20g, Sài hồ 9g, Xa tiền tử 18g, Mộc thông 10g, Phục linh 30g, Ngô công 5 con. Ngày uống 1 thang. Liệu trình 20 ngày.
GG :
-Can uất, thêm : Hợp hoan bì 12g, tăng Sài hồ lên thành 16g;
-Tỳ hư, thêm : Đảng sâm, Thương truật, Bạch truật đều 12g;
-Di tinh thêm Liên tu 12g;
-Tâm thần bất định, thêm trích Viễn chí 12g.
8)1.P 13 : Trấn nuy hưng dương hoàn [10].
D 13 : Thục địa, Kỷ tử đều 50g, Sơn thù, Thiên môn, Nhục thung dung, Sà sàng tử đều 30g, Nữ trinh tử, Ba kích, Ngưu tất đều 60g, Dâm dương hoắc, Hoàng kỳ, Dương khởi thạch đều 100g, Ngô công 18 con, Cẩu phín 10 bộ. Sấy, tán, qua sàng 80, vào nhộng 0,25. Ngày uống 2 lần x 4 nhộng, chiêu bằng 1 chén rượu, liệu trình 35 ngày. Kiêng thịt lợn, đỗ xanh, trà.
8)2.P 14 : Ât diệu đan [11] (dùng ngoài).
D 14 : Xương chó đốt tồn tính, Cúc hoa, Sà sàng tử, Ngưu bàng tử, Địa long, Phong phòng, Dương khởi thạch lượng đều nhau. Tán nhỏ, qua sàng 80. Mỗi tối 1 lần, ding nước quét lên dương vật. Liệu trình 35 ngày.
8)3.Châm cứu.
-Công thức huyệt : Thận du, Mệnh môn, Tam âm giao, Túc tam lý, Nội quan, Quan nguyên, Khí hải.
-Cách châm : Kích thích vừa phải, phương pháp bổ “ Thiên sơn hoả “, không lưu kim, phối hợp Ngải cứu. Liệu trình 2 đến 7 tháng.
9)P 15 : Tráng dương cang nuy tán [12].
D 15 : Thục địa, Dương khởi thạch (nung, tôi bằng rượu trắng), Ba kích, Dâm dương hoắc (sao bằng mỡ dê), Nhục thung dung, Phúc bồn tử đều 90g, sinh Hoàng kỳ, Đương quy, Bạch thược, Mạch môn, Kỷ tử, Bá tử nhân, Thạch xương bồ, Kê nội kim đều 80, Hải long (ngâm trong rượu trắng 1 - 2 giờ, sao vàng qua lửa than) 3 con, Phỉ tử, Cửu hương trùng, Ngô công, Cam thảo đều 30g. Phơi hoặc sấy khô, tán qua sàng 80 - 120, đựng trong lọ hoặc hoàn mật bằng hạt ngô đồng. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 3 - 6 g uống trước bữa ăn, chiêu bằng nước chín ấm. Liệu trình từ 1 tuần đến 1 năm.
10)P 16, D 16 : Hoàng kỳ 15g, trích Cam thảo 6g, Đào nhân 50g, Đảng sâm 15g, Bầu dục lợn 1 đôi. Sắc thuốc bỏ bã, cho bầu dục đã thái vào, đun thêm 15 phút, ăn cả cái lẫn nước. Cách ngày 1 lần – trị Dương nuy do trung khí bất túc.
Không dùng thuốc :
1)Châm :
+Công thức huyệt : Thận du, Tam âm giao, Trung cực, Hoành cốt, Cử dương (giữa huyệt Trật biên và Hoàn khiêu).
+Cách châm huyệt Cử dương : châm xiên đợi cho gốc dương vật có cảm giác tê căng co, lưu kim 30 phút, cứ 10 phút tiến kim 1 lần, châm bình bổ bình tả. Các huyệt khác đều châm bổ. Cách ngày 1 lần. 12 lần là 1 liệu trình. Liệu trình cách nhau 7 ngày.
GG :
-Mệnh môn hỏa suy, thêm : Dương quan, Mệnh môn, Quan nguyên để ôn bổ nguyên dương;
-Thận dương bất túc, thêm : Quan nguyên, Mệnh môn đều châm bổ, riêng Mệnh môn, Thận du sau châm cứu 7 mồi;
-Tâm tỳ lưỡng hư, thêm : Tâm du, Nội quan, Trung quản, Túc tam lý, Tỳ du, Quan nguyên để bổ ích tâm tỳ;
-Tâm thận âm hư, thêm : Trung cực, Thứ liêu, Thần môn, Phục lưu đều châm bổ riêng Đại lăng châm tả.
-Can khí uất kết, thêm : Can du, Thái khê, Dương lăng tuyền để sơ can điều khí hòa huyết;
-Kinh sợ thương thận, thêm : Tâm du, Chí thất, Thần môn để ích thận cường chí, ninh tâm an thần;
-Thấp nhiệt hạ chú, thêm : Túc tam lý, Bàng quang du, Phong long để thanh lợi thấp nhiệt ở hạ tiêu.
+Y nghĩa :
-Thận du, Tam âm giao để điều tư (bổ) hạ nguyên;
-Trung cực, Hoành cốt để cường tráng hạ nguyên mà khởi nuy;
2)Nhĩ châm.
+Công thức huyêt : Tinh cung, Ngoại sinh thực khí, Tinh hoàn, Bình gian, Não, Thần môn.
+Mỗi lần chọn 2-3 huyệt, Dùng hào kim 0,5 thốn, kích thích vừa, lưu kim 15 phút, ngày 1 lần hoặc cách ngày 1 lần.
3)Điện châm.
+Công thức huyệt : Dương quan, Mệnh môn, Thận du, Thứ liêu, Khúc tuyền, Túc tam lý, Thái khê, Thúc dục (4 huyệt trên dưới phải trái âm hành). Tần số 120 lần/phút. Thời gian 20-30 phút. 10 ngày là 1 liệu trình.
4)Thủy châm.
+Công thức huyệt : Trung cực, Quan nguyên, Thận du, Tam âm giao.
+Thuốc : Vitamin B1, hoặc Tinh lộc nhung.
+Mỗi huyệt 0,5 ml. Cách ngày 1 lần. 15 lần là một liệu trình.
5) Xoa bóp. Mỗi ngày 1 lần, 7 lần là 1 liệu trình, liệu trình cách nhau 3 – 5 ngày.
-Day bằng bàn tay các huyệt Trung quản, Quan nguyên, bộ phận thắt lưng bụng, bụng dưới, mặt trong và mặt sau 2 chi dưới đến lúc thấy mỏi tê nóng, mỗi huyệt 5 phút;
-Véo miết mạch Đốc, Hoa Đà giáp tích, kinh Bàng quang theo hướng từ Trường cường lên Đại Trữ mỗi bên 1 lần;
-Bấm day Thận du, Tam âm giao mỗi huyệt 1 phút;
-Sát bằng lòng bàn tay Bát liêu 3-5 phút cho đến khi vùng đó đau căng nóng, bụng dưới thấy nóng lên là được.
-Vuốt ngang bụng dưới bằng 4 ngón tay, từ mép xương vào giữa, nhiều lần trong 5 - 10 phút;
-Day Mệnh môn bằng ngón cái hoặc sống ngón giữa, từ 5 đến 10 phút;
-4 ngón tay tựa vào mép sườn trước bụng, dùng ngón tay cái miết phân đôi từ giữa ra ngoài ngang huyệt Thận du từ 5 đến 10 phút.
-Bấm Tam âm giao, Túc tam lý mỗi huyệt 5 phút;
GG :
-Mệnh môn hỏa suy, thêm : day Dương quan, Thái khê mỗi huyệt 1 phút để ôn bổ hạ nguyên;
-Tâm tỳ lưỡng hư, thêm : bấm Đản trung 1 phút, từ bụng trên xuống bụng dưới theo 2 mạch Xung Nhâm 5 lượt, day Tâm du, Can du, Túc tam lý mỗi huyệt 1 phút để bổ ích tâm tỳ;
-Can khí uất kết, thêm : bấm Đản trung, Can du mỗi huyệt 1 phút; ngón tay cái miết từ Thượng quản theo cung sườn ra mép sườn 5 lần, để lý khí thông lạc;
-Sợ hãi thương thận, thêm bấm Nội quan, Đại lăng, Thần môn, Trung cực, Thần khuyết mỗi huyệt 1 phút, 2 lòng bàn tay vuốt từ 2 mép xương chậu vào giữa bụng dưới 5 lần, để ích thận ninh thần;
-Thấp nhiệt hạ chú, thêm : bấm Can du, Đại tràng du, Khúc tuyền mỗi huyệt 1 phút, day Thiên khu, Trung cực bằng lòng bàn tay trong 3 phút để thanh lợi thấp nhiệt.
PHỤ LỤC
[1].Tán dục đan
Xuất xứ (XX) : Y lược giải ẩm – Tạ Đình Hải.
Công dụng (CD) : Ôn bổ hỏa nguyên, trấn dương khởi nuy.
Chủ trị (CT) : Liệt dương do hỏa suy.
Dược (D) : Thục địa, Đông truật đều 160g, Đương quy, Kỷ tử đều 120g, Ba kích, Cửu tử, Dâm dương hoắc, Đỗ trọng, Nhục thung dung, Tiên mao đều 80g, Sơn thù, Xà sàng tử đều 40g, Nhục quế, Phụ tử chế đều 20g. Tán bột làm viên.
[2].Lục vị địa hoàng hoàn
XX : Tiểu nhi dược chứng trực quyết.
CD : Tư thận âm, bổ can huyết.
CT : Can thận âm hư, lưng gối đau mỏi, đầu váng, mắt hoa, tai ù tai điếc, tai nghe như tiếng ve kêu, mồ hôi trộm, di tinh, nóng trong xương, nóng về chiều, long bàn chân tay nóng, răng đau do hư hoả bốc lên, tiêu khát, họng đau, mạch tế sác. Có tác dụng trị tế bào thượng bì thực quản tăng sinh, phòng sự phát triển của ung thư. Năm 1977, Sở nghiên cứu trung dược, Viện nghiên cứu Trung y Trung Quốc nghiên cứu hệ thống và phát hiện có các tác dụng sau : Kháng ung thư; Tăng chỉ số phát triển gan lách chuột trung bình 15%; Tăng cân nặng thể lực của chuột thí nghiệm; Tăng khả năng thực bào của tế bào đơn nhân; Trị 92 ca ung thư thực quản, sau 1 năm theo dõi có 82 ca tế bào trở lại bình thường.
D : Thục địa 32g, Sơn thù nhục, Hoài sơn đều 16g, Đơn bì, Phục linh, Trạch tả đều 12g. Tán hoàn, luyện mật, uống ấm, lúc bụng đói. Ngày 3 lần, mỗi lần 10g.
Phương giải (PG) : Thục địa : tư thận bổ can, thêm tinh, ích tuỷ, sinh huyết; Sơn thù : ôn bổ can thận, thu sáp tinh khí; Hoài sơn : bổ tỳ, cố tinh; Trạch tả : thanh tả thận hoả, giảm bớt nê trệ của Thục địa; Đơn bì : thanh mát máu nhiệt, tả can hoả, giảm bớt tính ôn của Sơn thù; Bạch linh : trừ thấp giúp Hoài sơn kiện tỳ.
Tên khác (TK) : Bổ thận địa hoàng hoàn (Ấu ấu toàn thư), Lục vị địa hoàng hoàn (Chính thể loại yếu – Tiết Kỷ), Lục vị hoàn (Chứng trị chuẩn thằng – Vương Khẳng Đường).
Biến phương (BP) :
-Thêm Tri mẫu, Hoàng bá đều 8g thành Tri bá bát vị hoàn (Chứng nhân mạch trị – Tần Cảnh Minh).
-Thêm Kỷ tử, Cúc hoa đều 12g thành Kỷ cúc địa hoàng hoàn (Y cấp – Đổng Tây Viên).
-Thêm Bạch thược, Đương quy, Kỷ tử, Cúc hoa, Bạch tật lê, Thạch quyết minh đều 12g thành Minh mục địa hoàng hoàn (Toàn quốc trung dược thành dược xử phương tập – Viện nghiên cứu trung y Trung Quốc).
-Thêm Ngũ vị tử, Mạch môn thành Bát tiên trường thọ hoàn.
-Giảm Đơn bì, Phục linh, Trạch tả, thêm Đỗ trọng, Đảng sâm, Chích Cam thảo, Đương quy thành Đại bổ nguyên tiễn.
[3].Ban long hoàn
[3].Ban long hoàn
XX : Y học chính truyền, quyển 3 – Ngu Bác.
CD :
CT : Liệt dương, dương nuy, di tinh, khí huyết suy.
D : Bá tử nhân, Lộc giác sương, Lộc giao, Thỏ ty tử, Thục địa đều 80g, Phục linh, Phá cố chỉ đều 40g. Tán bột, luyện mật, làm hoàn 10g. Ngày uống 2-3 hoàn.
TK : Thanh nang ban long hoàn (Y học chính truyền).
[4].Tráng dương thang
[5].Quy tỳ thang
XX : Tế sinh phương – Nghiêm Dụng Hoà.
CD : Bổ khí, kiện tỳ, dưỡng huyết.
CT : Tâm tỳ đều hư, khí huyết hư, hồi hộp, hay quên, mất ngủ, kém ăn, mệt mỏi, kinh nguyệt không đều, rong kinh, xuất huyết dưới da, suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, suy tim.
D : Nhân sâm, Bạch truật đều 10g, Bạch linh 8g, Chích Cam thảo 2g, Hoàng kỳ 10g, Táo nhân, Viễn chí, Đương quy đều 4g, Mộc hương 2g, Long nhãn 10g.
PG : Nhân sâm, Bạch truật, Bạch linh, Chích Cam thảo : kiện tỳ ích khí; Hoàng kỳ : tăng thêm công hiệu ích khí; Táo nhân, Viễn chí, Đương quy : dưỡng tâm huyết, an tâm thần, Mộc hương : lý khí tỉnh tỳ.
[6].Tiêu dao tán
XX : Thái Bình huệ dân hoà tễ cục phương – Trần Sư Văn).
CD : Sơ can giải uất.
CT : Can uất huyết nhiệt dẫn đến đau liên sườn, ngũ tâm phiền nhiệt, đầu váng, mắt hoa, hồi hộp, miệng khô họng ráo, ngực đầy, mỏi mệt kém ăn, tỳ vị không hoà, nóng rét qua lại, kinh nguyệt không đều, bầu vú căng chướng, mạch hư huyền. Viêm gan mạn thể can uất tỳ hư.
D : Bạch thược, Bạch truật, Bạch linh, Sài hồ, Đương quy đều 30g, Cam thảo 16g, thêm : Bạc hà, Ổi khương (Gừng lùi). Sắc uống.
PG : Đương quy, Bạch thược : dưỡng huyết nhu can; Sài hồ : sơ can giải uất; Bạch truật, Cam thảo : bồi bổ tỳ thổ; Ổi khương, Đương quy, Bạch thược : điều hoà khí huyết; Bạch linh : trừ thấp; Bạc hà : hỗ trợ tác dụng sơ tán.
[7].Tuyên chí thang
XX : Biện chứng lục – Trần Sĩ Đạt.
CD :
CT : Liệt dương, ý chí bị uất.
D : Phục linh, Hoài sơn, Táo nhân đều 20g, Ba kích, Bạch truật, Đương quy đều 12g, Nhân sâm, Sài hồ, Viễn chí, Xương bồ, Cam thảo đều 4g. Sắc uống.
[8].Long đởm tả can thang
XX : Thái Bình huệ dân hoà tễ cục phương – Trần Sư Văn.
CD : Tả can đởm thực hoả, thanh can kinh thấp nhiệt.
CT : Can kinh uất nhiệt, miệng đắng, mạn sườn đau, mắt đỏ, tai ù. Huyết áp cao (thể thực nhiệt), viêm cầu thận cấp, viêm tinh hoàn, viêm bàng quang.
D : Long đởm thảo, Trạch tả đều 4g, Sài hồ, Hoàng cầm, Đương quy, Sinh địa, Sơn chi, Xa tiền tử, Mộc thông, Cam thảo đều 2g. Sắc uống.
PG : Long đởm thảo : tả thực nhiệt ở can đởm, thanh thấp nhiệt ở hạ tiêu; Hoàng cầm, Chi tử, Sài hồ : đắng hàn, tả hoả; Xa tiền tử, Mộc thông, Trạch tả : thanh lợi thấp nhiệt, làm cho thấp nhiệt thoát ra theo đường tiểu; Sinh địa, Đương quy : mát máu, ích âm; Cam thảo : điều hoà vị thuốc, sứ.
[9].Long đởm địa long khởi nuy thang
[9].Long đởm địa long khởi nuy thang
[10].Trấn nuy hưng dương hoàn
[11].Ất diệu đan
[12].Trấn dương cang nuy tán
Phác đồ điều trị tại Thọ Xuân Đường : sử dụng các phương tiện chẩn đoán cận lâm sàng kết hợp với thất chẩn chẩn đoán chính xác nguyên nhân và các thể của liệt dương. Sử dụng thuốc sắc hoặc sắc đóng túi kết hợp với viên bổ thận đặc biệt . Thời gian điều trị 2-3 tháng, tác dụng ngay sau 2 tuần điều trị . khắc phục bổ xung toàn bộ những cái còn yếu Mang lại sinh lực dồi dào và phong độ cho nam giới, đã chữa khỏi cho hàng vạn bệnh nhân.
Phùng Tuấn Giang - Lê Đắc Quý
Theo: dongythoxuanduong.com.vn
Bài thuốc với Hà thủ ô
Hà Thủ Ô là tên một vị thuốc bổ rất quen thuộc trong mọi gia đình, người xưa tin rằng Hà Thủ Ô có khả năng làm người già thành trẻ, tóc bạc lại đen. Tuy rằng để chứng minh, chỉ có một chuyện cổ tích rất ngắn, và không có nhiều chi tiết, được coi như huyền thoại, nhưng tất cả những sách dược thảo đều có ghi lại vì đó là lý do vì sao vị dược thảo này được gọi là Hà Thủ Ô.
Sách thuốc cổ ghi rằng: “Hà Thủ Ô vốn tên Dạ Giao Đằng, sau vì có ông già họ Hà dùng lâu ngày, tóc bạc hóa đen và sống lâu hơn mọi người, nên đuợc gọi là Hà Thủ Ô, có nghĩa là ông họ Hà có đầu tóc đen”.
Cây Hà Thủ Ô là loại cây leo hay dạ hợp, vì đêm đến cành quấn vào nhau. Tên khoa học là Polygonum multiflorum, nghĩa là có nhiều đốt, nhiều hoa. Cây mọc lâu năm, thân xoắn vào nhau, lá so le, có cuống dài. Hoa trắng mọc chùm có nhiều nhánh. Mùa hoa tháng 10, mùa quả tháng 11.
Hà Thủ Ô mọc hoang ở rừng núi nhiều nhất là ở Giang Tô, Quảng Đông, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Phúc Kiến ở Trung Hoa và các tỉnh Tây Bắc và Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Hoàng Liên Sơn, Lai Châu ở Việt Nam.
Đến mùa thu hay mùa xuân, người ta đào về rửa sạch đất, cắt hai, hấp rồi phơi khô. Có nơi không hấp mà phơi ngay. Muốn có Hà Thủ Ô miếng thì đào về còn tươi đem thái ngay, hấp chín rồi phơi khô.
Có nhiều nơi luyện thuốc rất kỹ, hấp Hà Thủ Ô với đậu đen xong phơi khô. Khô rồi lại hấp với đậu đen và phơi lại. Làm như thế đến 9 lần. Hà Thủ Ô thành đen tuyền mới đúng gọi là Hà Thủ Ô chế.
Cho đến nay Hà Thủ Ô vẫn được dùng làm thuốc bổ thần kinh suy nhược, bổ huyết, khỏe gân cốt. Đối với phụ nữ, Hà Thủ Ô được dùng làm thuốc bổ sau khi sanh đẻ.
Ngoài rễ Hà Thủ Ô, lá và cành còn được dùng đun nước tắm rửa, để chữa các chứng lở ngứa. Có thể phối hợp với lá ngải càng tốt.
Ngoài ra lại còn một thứ Hà Thủ Ô trắng. Các vị Đông Y cho là công dụng cũng giống như Hà Thủ Ô đỏ. Cách chế biến và liều dùng cũng không khác.
Rượu Hà Thủ Ô
Theo sách cổ Hà Thủ Ô có tác dụng bổ tinh, hồi xuân, phòng lão, tăng tuổi thọ, mạnh gân xương.
Dùng 150gr Hà Thủ Ô, 200gr đường phèn, một lít rượu. Cho vào bình đậy kín để nơi tối mát độ hai tháng. Chất thuốc tan vào rượu, lọc bỏ bã. Uống 1 hay 2 ly nhỏ một ngày. Rượu Hà Thủ Ô mùi vị không ngon nhưng pha lẫn với rượu Quế thì thơm ngọt, dễ uống hơn. Nếu cay nồng quá có thể pha thêm nước hoa quả hay nước để cho loãng bớt.
Đơn thuốc bổ
Người yếu, thần kinh suy nhược ăn uống kém tiêu, dùng :
Hà Thủ Ô 10gr,
Táo đen 5g,
Thanh Bì 2g,
Trần Bì 3g,
Sinh Khương 3g,
Cam Thảo 2g,
Nước 6 chén.
sắc còn 2 chén, chia 3, 4 lần uống trong ngày.
Bài thuốc Thất Bảo
Làm cho tóc râu tốt, khỏe gân xương, bổ tinh khí, sống lâu.
Hà Thủ Ô đỏ và Hà Thủ Ô trắng mỗi thứ 600g ngâm nước vo gạo 4 đêm ngày, cạo bỏ vỏ
Dùng đậu đen đãi sạch rồi cho Hà Thủ Ô vào nồi hấp, sắp một lượt Hà thủ ô, một lượt đậu đen, xong bắc lên bếp hấp chín đậu đen, đem bỏ đậu, lấy Hà Thủ Ô phơi khô, rồi lại hấp với đậu khác, làm như vậy 9 lần. Cuối cùng đem Hà Thủ Ô sấy khô và tán bột.
Xích và Bạch Phục Linh mỗi vị 600g, cạo bỏ vỏ tán bột, đãi với nước trong, lọc lấy bột lắng ở dưới, nắm lại, tẩm với sữa phơi khô.
Ngưu Tất 320g, tẩm rượu một ngày, thái mỏng trộn với Hà Thủ Ô, hấp với đậu đen vào lần thứ 7, 8 và 9 đem ra phơi khô.
Đương Qui 320g tẩm rượu phơi khô.
Cẩu Kỷ Tử 320g tẩm rượu phơi khô.
Thổ Ty Tử 320g tẩm rượu cho nứt ra, giã nát phơi khô.
Bổ Cốt Chỉ 100g, trộn với mè đen sao cho bốc mùi thơm.
Tất cả giã nát trộn đều thêm mật vào làm thành viên 0,05 g (bằng hạt bắp).
Ngày uống 3 lần, mỗi lần 50 viên. Sáng dùng rượu chiêu thuốc, trưa dùng nước gừng và tối dùng nước muối (theo Tích Thiện Đường).
Hà Thủ Ô Hoàn
Công dụng như bài “Thất Bảo” nhưng ít vị hơn:
Hà Thủ Ô 1.800g thái mỏng,
Ngưu tất 600g thái mỏng.
Hai vị trộn đều. Lấy đậu đen đãi cho sạch. Cho thuốc vào nồi hấp, cứ một lượt thuốc, một lượt đậu. Hấp chín đậu. Lấy thuốc ra phơi khô. Làm như vậy 3 lần rồi tán bột. Lấy thịt táo tàu đen trộn với bột làm thành viên 0,05 g. Ngày uống 5 lần, mỗi lần 30 viên. Dùng rượu hâm nóng để uống thuốc (theo Hòa Tễ Cực Phương).
Hà Thủ Ô Tán
Công dụng cũng như bài ”Thất Bảo”.
Hà Thủ Ô cạo vỏ, thái mỏng phơi khô, tán bột. Ngày uống 4g vào sáng sớm, uống thuốc bằng rượu (theo Bản Thảo Cương Mục).
Những phương pháp nói trên, chỉ ghi lại để thấy người xưa rất thận trọng việc làm thuốc. Và trong dân gian dù được dùng rất nhiều, không phải ai cũng có đủ kiên nhẫn và hiểu biết dược tính, để pha chế một thứ dược thảo bình dân, thông dụng khắp nơi, và khắp cả mọi giới như Hà Thủ Ô.
Cháo Hà Thủ Ô
Gói Hà Thủ Ô trong vải thưa, nấu chung với cháo. Cháo nhừ vớt ra.. Ăn ngọt cho đường. Ăn mặn cho thêm một quả trứng, nêm nếm vừa miệng. Bổ khí huyết.
sưu tầm
Sách thuốc cổ ghi rằng: “Hà Thủ Ô vốn tên Dạ Giao Đằng, sau vì có ông già họ Hà dùng lâu ngày, tóc bạc hóa đen và sống lâu hơn mọi người, nên đuợc gọi là Hà Thủ Ô, có nghĩa là ông họ Hà có đầu tóc đen”.
Cây Hà Thủ Ô là loại cây leo hay dạ hợp, vì đêm đến cành quấn vào nhau. Tên khoa học là Polygonum multiflorum, nghĩa là có nhiều đốt, nhiều hoa. Cây mọc lâu năm, thân xoắn vào nhau, lá so le, có cuống dài. Hoa trắng mọc chùm có nhiều nhánh. Mùa hoa tháng 10, mùa quả tháng 11.
Hà Thủ Ô mọc hoang ở rừng núi nhiều nhất là ở Giang Tô, Quảng Đông, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Phúc Kiến ở Trung Hoa và các tỉnh Tây Bắc và Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Hoàng Liên Sơn, Lai Châu ở Việt Nam.
Đến mùa thu hay mùa xuân, người ta đào về rửa sạch đất, cắt hai, hấp rồi phơi khô. Có nơi không hấp mà phơi ngay. Muốn có Hà Thủ Ô miếng thì đào về còn tươi đem thái ngay, hấp chín rồi phơi khô.
Có nhiều nơi luyện thuốc rất kỹ, hấp Hà Thủ Ô với đậu đen xong phơi khô. Khô rồi lại hấp với đậu đen và phơi lại. Làm như thế đến 9 lần. Hà Thủ Ô thành đen tuyền mới đúng gọi là Hà Thủ Ô chế.
Cho đến nay Hà Thủ Ô vẫn được dùng làm thuốc bổ thần kinh suy nhược, bổ huyết, khỏe gân cốt. Đối với phụ nữ, Hà Thủ Ô được dùng làm thuốc bổ sau khi sanh đẻ.
Ngoài rễ Hà Thủ Ô, lá và cành còn được dùng đun nước tắm rửa, để chữa các chứng lở ngứa. Có thể phối hợp với lá ngải càng tốt.
Ngoài ra lại còn một thứ Hà Thủ Ô trắng. Các vị Đông Y cho là công dụng cũng giống như Hà Thủ Ô đỏ. Cách chế biến và liều dùng cũng không khác.
Rượu Hà Thủ Ô
Theo sách cổ Hà Thủ Ô có tác dụng bổ tinh, hồi xuân, phòng lão, tăng tuổi thọ, mạnh gân xương.
Dùng 150gr Hà Thủ Ô, 200gr đường phèn, một lít rượu. Cho vào bình đậy kín để nơi tối mát độ hai tháng. Chất thuốc tan vào rượu, lọc bỏ bã. Uống 1 hay 2 ly nhỏ một ngày. Rượu Hà Thủ Ô mùi vị không ngon nhưng pha lẫn với rượu Quế thì thơm ngọt, dễ uống hơn. Nếu cay nồng quá có thể pha thêm nước hoa quả hay nước để cho loãng bớt.
Đơn thuốc bổ
Người yếu, thần kinh suy nhược ăn uống kém tiêu, dùng :
Hà Thủ Ô 10gr,
Táo đen 5g,
Thanh Bì 2g,
Trần Bì 3g,
Sinh Khương 3g,
Cam Thảo 2g,
Nước 6 chén.
sắc còn 2 chén, chia 3, 4 lần uống trong ngày.
Bài thuốc Thất Bảo
Làm cho tóc râu tốt, khỏe gân xương, bổ tinh khí, sống lâu.
Hà Thủ Ô đỏ và Hà Thủ Ô trắng mỗi thứ 600g ngâm nước vo gạo 4 đêm ngày, cạo bỏ vỏ
Dùng đậu đen đãi sạch rồi cho Hà Thủ Ô vào nồi hấp, sắp một lượt Hà thủ ô, một lượt đậu đen, xong bắc lên bếp hấp chín đậu đen, đem bỏ đậu, lấy Hà Thủ Ô phơi khô, rồi lại hấp với đậu khác, làm như vậy 9 lần. Cuối cùng đem Hà Thủ Ô sấy khô và tán bột.
Xích và Bạch Phục Linh mỗi vị 600g, cạo bỏ vỏ tán bột, đãi với nước trong, lọc lấy bột lắng ở dưới, nắm lại, tẩm với sữa phơi khô.
Ngưu Tất 320g, tẩm rượu một ngày, thái mỏng trộn với Hà Thủ Ô, hấp với đậu đen vào lần thứ 7, 8 và 9 đem ra phơi khô.
Đương Qui 320g tẩm rượu phơi khô.
Cẩu Kỷ Tử 320g tẩm rượu phơi khô.
Thổ Ty Tử 320g tẩm rượu cho nứt ra, giã nát phơi khô.
Bổ Cốt Chỉ 100g, trộn với mè đen sao cho bốc mùi thơm.
Tất cả giã nát trộn đều thêm mật vào làm thành viên 0,05 g (bằng hạt bắp).
Ngày uống 3 lần, mỗi lần 50 viên. Sáng dùng rượu chiêu thuốc, trưa dùng nước gừng và tối dùng nước muối (theo Tích Thiện Đường).
Hà Thủ Ô Hoàn
Công dụng như bài “Thất Bảo” nhưng ít vị hơn:
Hà Thủ Ô 1.800g thái mỏng,
Ngưu tất 600g thái mỏng.
Hai vị trộn đều. Lấy đậu đen đãi cho sạch. Cho thuốc vào nồi hấp, cứ một lượt thuốc, một lượt đậu. Hấp chín đậu. Lấy thuốc ra phơi khô. Làm như vậy 3 lần rồi tán bột. Lấy thịt táo tàu đen trộn với bột làm thành viên 0,05 g. Ngày uống 5 lần, mỗi lần 30 viên. Dùng rượu hâm nóng để uống thuốc (theo Hòa Tễ Cực Phương).
Hà Thủ Ô Tán
Công dụng cũng như bài ”Thất Bảo”.
Hà Thủ Ô cạo vỏ, thái mỏng phơi khô, tán bột. Ngày uống 4g vào sáng sớm, uống thuốc bằng rượu (theo Bản Thảo Cương Mục).
Những phương pháp nói trên, chỉ ghi lại để thấy người xưa rất thận trọng việc làm thuốc. Và trong dân gian dù được dùng rất nhiều, không phải ai cũng có đủ kiên nhẫn và hiểu biết dược tính, để pha chế một thứ dược thảo bình dân, thông dụng khắp nơi, và khắp cả mọi giới như Hà Thủ Ô.
Cháo Hà Thủ Ô
Gói Hà Thủ Ô trong vải thưa, nấu chung với cháo. Cháo nhừ vớt ra.. Ăn ngọt cho đường. Ăn mặn cho thêm một quả trứng, nêm nếm vừa miệng. Bổ khí huyết.
sưu tầm
Bài thuốc đông y chữa di tinh
Di tinh là hiện tượng tinh dịch chảy ra ngoài ở nam giới mà không có kích thích tình dục hoặc dương vật không cương cứng. Đông y cho rằng, nguyên nhân là do tâm thần quá vượng thịnh, do bị tình dục kích thích gây hoạt tinh, do thận hư không tàng tinh gây mộng tinh, do ăn nhiều đồ béo ngọt gây thấp nhiệt dồn xuống dưới kích thích thận hỏa gây mộng tinh. Sau đây là một số bài thuốc trị theo từng nguyên nhân.
Di tinh do tâm, can, thận quá mạnh (quân hỏa, tướng hỏa mạnh): hay gặp ở người rối loạn thần kinh chức năng, hưng phấn tăng gây hoạt tinh. Thường có triệu chứng ngủ ít, hồi hộp, đầu choáng váng, mạch huyền. Phép chữa là định tâm an thần, cố tinh. Dùng bài: Long nhãn 16g, khiếm thực 12g, táo nhân 12g, kim anh 12g, long cốt 16g, thảo quyết minh 12g, mẫu lệ 16g. Sắc uống ngày 1 thang.
Thảo quyết minh và bạch tật lê là hai vị thuốc trị di tinh do tâm, can, thận quá mạnh.
Di tinh do thận hư không tàng tinh: do thận âm và thận dương hư gây ra. Gặp ở người bị rối loạn thần kinh chức năng. Thường có triệu chứng: đau lưng, ngủ ít, chóng mặt, nhức đầu, hay mê, ù tai. Nếu thận âm hư có biểu hiện: phiền nhiệt, họng khô, miệng khô, tiểu tiện đỏ, đại tiện táo, ra mồ hôi trộm, nhức trong xương, mạch tế sác. Nếu thận dương hư thì kèm theo sợ lạnh, lưng gối lạnh đau, tay chân lạnh, phân nát, nước tiểu trong, di tinh kèm liệt dương, mạch trầm nhược. Phép chữa là bổ thận âm nếu thận âm hư, bổ thận dương nếu thận dương hư, an thần, cố tinh. Dùng một trong các bài thuốc sau:
Nếu cả thận âm hư và thận dương hư:
Bài 1: sa uyển tật lê 80g, long cốt 40g, khiếm thực 80g, mẫu lệ 40g. Tất cả tán bột làm viên, mỗi ngày uống 12g.
Bài 2: tang phiêu tiêu, xương bồ, đẳng sâm, quy bản, viễn chí, phục thần, đương quy lượng bằng nhau. Tất cả tán bột làm viên, ngày uống 8g.
Nếu thận âm hư dùng bài: sa sâm 12g, mạch môn 12g, thạch hộc 12g, kim anh 12g, khiếm thực 12g, liên nhục 12g, quy bản 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
Nếu thận dương hư dùng bài: ba kích 12g, sừng nai 12g, phá cố chỉ 12g, thỏ ty tử 12g, hoàng tinh 12g, hoài sơn 12g, liên nhục 16g. Sắc uống ngày 1 thang.
Di tinh do thấp nhiệt: Người bệnh có biểu hiện di tinh, khát nước nhiều, tiểu tiện đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch nhu sác. Phép chữa là thanh nhiệt lợi thấp.
Bài 1: tỳ giải 16g, hoàng bá nam 12g, mẫu lệ 12g, cỏ nhọ nồi 12g, ý dĩ 12g, bồ công anh 16g, củ mài 16g, cam thảo nam 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
Bài 2: bạch truật 16g, mẫu lệ 16g, khổ sâm 10g, dạ dày lợn 10g. Sắc uống ngày 1 thang.
Bài thuốc chữa bệnh phụ khoa
Đan sâm có tác dụng điều hòa kinh nguyệt trị hiểu quả rối loạn kinh nguyệt, ích mẫu trị đau bụng và khí hư, đương quy hạn chế đau lưng, nhức mỏi chân tay... Đây là những vị thuốc quý trong điều trị các bệnh phụ nữ.
Ích mẫu
Đan sâm: còn gọi là huyết sâm, xích sâm, huyết căn. Thuốc dùng cho phụ nữ kinh nguyệt không đều, con gái chưa lấy chồng mà da mặt xanh nhợt, ăn uống thất thường, tinh thần suy nhược, thiếu máu, phá hòn khối trong bụng. Đan sâm còn trị sưng đau khớp xương, ung nhọt, mẩn ngứa. Dùng rễ khô, sắc uống ngày 6 -12g. Lưu ý không dùng khi không ứ huyết.
Đương quy: còn có tên tần quy, tây quy, vân quy, xuyên quy, đương quy. Thuốc chữa huyết hư, đau nhức lưng, chân, tay và lạnh, kinh nguyệt không đều, hành kinh đau bụng, đại tiện táo. Bộ phận dùng gồm rễ khô, tính ấm vị ngọt, cay hơi đắng vào tâm, can, tỳ. Dùng dạng sắc hay ngâm rượu. Ngày 12 - 16g. Không dùng khi tỳ thấp, đầy trướng, tiêu chảy.
Hoài sơn: còn gọi là khoai mài, củ mài, sơn dược. Chữa khí hư nhiều, cơ thể suy nhược, tiêu hóa kém, tả, lỵ, ho suyễn, yếu mệt, đái tháo, miệng khát, đái dắt... Dùng củ khô đã chế biến có tính bình, vị ngọt vào tỳ, vị đi vào kinh phế, thận. Sắc uống ngày 20 - 30g, bột 5 - 10g/ngày. Không dùng cho người thấp nhiệt, đại tiện táo.
Ích mẫu: còn gọi là chói đèn, sung úy, ích minh. Vị này có tác dụng trị chậm kinh, ít kinh, không đều, đau bụng, khí hư, bạch đới, khó đẻ, thai chết lưu, đẻ sót rau, xây xẩm chóng mặt sau đẻ, chảy máu, ra nhiều máu hôi. Dùng thân, cây, cành có nhiều lá chưa có hoa hoặc hoa mới nở. Vị này tính hơi lạnh, cay đắng vào tâm bào, can. Sắc uống hay dùng cao ngày 10 - 30g. Không dùng ích mẫu cho người huyết hư không ứ. Phụ nữ đang mang thai uống quá liều có thể gây tai biến chảy máu nhiều.
theo: suckhoedoisong
Tổng hợp các bài thuốc đông y chữa khỏi bệnh thận
Đông y coi thận quan trọng nhất trong các bộ phận của cơ thể, các phương thuốc dưới đây dùng để chữa những bệnh về thận.
Đông y coi thận quan trọng nhất trong các bộ phận của cơ thể, các phương thuốc dưới đây dùng để chữa những bệnh về thận mà đông y cho rằng, nguyên khí gốc ở thận và bắt nguồn từ tiên thiên, được khí của hậu thiên nuôi dưỡng... nhưng vì một lý do nào đó đã làm cho chức năng của thận bất túc mà sinh bệnh.
Thận khí hoàn (Kim quỹ yếu lược): Can địa hoàng 16 - 32g, sơn thù 8 - 16g, bạch linh 8 - 12g, sơn dược 8 - 16g, trạch tả 8 - 12g, đơn bì 8 - 12g, phụ tử chế 4g, quế chi 2 - 4g.
Cách dùng: Tất cả tán bột mịn trộn đều luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 8 - 12g. Ngày 1 - 2 lần, với nước sôi nóng hoặc gia thêm ít muối. Có thể làm thuốc thang sắc uống, ngày 1 thang chia 3 lần.
Tác dụng "ôn bổ thận dương", đây là phương thuốc chính chữa chứng thận dương hư. Xét trong phương ta thấy phụ tử, quế chi ôn bổ thận dương là chủ dược.
Thêm bài "Lục vị" tư bổ thận âm để điều hòa âm dương làm cho thận khí được sung túc thì các triệu chứng do thận dương hư gây nên như đau lưng, gối mỏi, phía nửa người dưới lạnh, tiểu tiện nhiều lần hoặc tiểu són, hoặc chứng hoạt tinh, di niệu tự khỏi. Tuy nhiên, phương thuốc này không dùng đối với những trường hợp có hội chứng thận âm bất túc như đau lưng, mỏi gối, người nóng ra mồ hôi trộm, mạch tế sác.
Có thể kết hợp dùng phụ phương "Hữu quy hoàn" (Cảnh nhạc toàn thư), gồm thục địa 32g, sơn dược sao 16g, sơn thù 12g, câu kỷ tử 16g, đỗ trọng (tẩm gừng sao) 16g, thỏ ty tử 16g, phục phụ tử 8 - 14g, nhục quế 8 - 16g, đương quy 12g (trường hợp tiêu chảy không dùng), lộc giác giao 16g.
Cách dùng: Theo tỷ lệ trên tất cả tán bột mịn luyện mật làm hoàn, mỗi lần uống 4 - 8g, có thể làm thuốc thang sắc uống, ngày 1 thang chia 3 lần. Tác dụng ôn thận tráng dương, bổ tinh huyết.
Chủ trị: các chứng thận dương bất túc, mệnh môn hỏa suy, lão suy. Lâm sàng biểu hiện các triệu chứng như sợ lạnh, chân lạnh, hoạt tinh, liệt dương, chân đau, gối mỏi.
Hậu thiên bát vị phương" (Hải thượng Y tôn tâm lĩnh): Bố chính sâm 40g, bạch truật (tẩm mật sao) 20g, chích thảo 4g, mạch môn 4g, hoàng kỳ (tẩm mật sao) 8g, ngũ vị (tẩm mật sao) 4g, liên nhục (sao) 6g, phụ tử 2g.
Cách dùng: Gia thêm đại táo, gừng nướng sắc nước uống.
Chủ trị các chứng dương khí hậu thiên hư tổn, hình thể gầy xanh hoặc béo bệu, hơi thở ngắn, mỏi mệt, ăn không biết ngon, rất sợ gió lạnh, hoặc tiêu lỏng hoặc tỳ hư không liễm được hỏa, phát sốt phiền khát.
Bài thuốc nam chữa bệnh thận, suy thận, thận hư nhiễm mỡ
Bài thuốc nam này đã cứu mạng được rất nhiều người do mắc chứng nan y về thận, đây là bài thuốc rất quí, bí truyền của gia đình, nhưng cuối cùng thì tôi quyết định "giải mã" với suy nghĩ cứu người là trên hết.Những cây làm nên bài thuốc nầy cũng dễ tìm :
1- Rễ cây Chuối tiêu(chuối hờn, chuối già hương) ( Tên khoa học:Musa spp. họ Musaceae) ( Có hoặc không)
2- Rễ cây Dừa ( cây Dừa- Tên khoa học :Cocos nucifera L. họ Palmae )
3- Rễ cây Cau ( Cây cau-tên khoa học Areca catechu L. họ Palmae )
4- Rễ / lá của cây Lá Gai (Tên khoa học: Boehmeria nivea L.;(Urtica nivea L.) Họ Gai Gaud Urticaceae
5- Rễ cây Dứa (Gọi là cây dứa dại- Không phải cây Thơm);Tên khoa học: Pandanus odoratissimus L.f. (P. tectorius Park. ex Z.), thuộc họ Dứa dại - Pandanaceae.
6- Vỏ rễ hoặc vỏ thân cây Dâu tằm ( Cây Dâu-tên Khoa học Morus alba L họ Moraceae )
7- Vỏ rễ hoặc vỏ thân cây Sung-Có thể dùng vỏ thân cây sung ( Ficus glomerata Roxb.Var.chittagonga )
8- Vỏ rễ hoặc vỏ thân cây Ngái- Khó tìm thì dùng vỏ thân cây ngái ( Tên khoa học:Ficus hispida L. f.,họ Dâu tằm Moraceae)
9- Cây Tầm gửi ( không có tầm gửi trên cây bưởi, cây dâu tằm thì có thể dùng tầm gửi trên cây mít) ( tầm gửi dâu-tên Khoa học Ramulus loranthi, Họ Loranthaceae)
10-Cây Bìm bìm khu chén ( họ bìm bìm- Convolvulaceae )
11-Cây Nàng nàng ( tên khoa học Callicarpa cana L. họ Verbenaceae ) ( còn gọi là cây trứng ếch,..)
12-Cây Sả ( tên khoa học Cymbopogon nardus Rendl họ Lúa Gramineae )
13-Cây Thạch xương bồ ( tên khoa học Acorus gramineus Soland họ Araceae )
14-Cây Rau răm ( tên khoa học Polygonum odoratum Lour họ Polygonaceae ) (dành cho người bệnh nhưng kém tiêu hóa)
15-Cây Mã đề -Tên khoa học : Plantago asiatia L. Họ Plantaginaceae
16- Râu bắp ( ngô )-tên khoa học Stigmata maydis/ của cây Zea mays L họ Gramineae ( Nếu không đúng vụ thì cũng có thể không dùng)
17- Vỏ quả bưởi (bòng) Tên khoa học Citrus maxima, họ cam quit
...
Thêm : bệnh nhân Nam thêm Vỏ quít - bệnh nhân Nữ thì thêm Cỏ cú
(Bởi có câu : Nam bất thiểu Trần bì - Nam không thể thiếu vỏ quit
Nữ bất ly Hương phụ- Nữ không nên xa Cỏ cú)
Nên thu hái thuốc vào lúc trời nắng , nếu thu hái buổi sáng thì lấy phần phía đông, buổi chiều thì lấy phần phía tây.
Thu hái xong rửa sạch thái nhỏ,sao vàng khử thổ (có thể phơi khô để dành) . Mỗi loại dùng khoảng từ 15-30 gr (tươi) nếu đã phơi hay sấy khô thì ít hơn (từ 5 đến 10gr) - Tùy theo bệnh nặng nhẹ, nguyên nhân bệnh, trẻ hay già, nam hay nữ... mà người làm thuốc gia giảm cho phù hợp để làm thành một thang thuốc sắc uống hàng ngày. Sau ba ngày (đến 10 ngày với bệnh lâu năm) sẽ thấy hiệu nghiệm ! Tuy nhiên để chữa dứt điểm bệnh cần phải điều trị một thời gian cho bệnh dứt hoàn toàn
Trong trường hợp nhiễm độc kim loại nặng dùng bài thuốc nầy để điều trị thì rất tốt.
Đối với những bệnh nhận suy thận đã chuyển sang giai đoạn chạy thận có thể dùng bài thuốc nầy để chữa trị tiếp tục, hiệu quả đã được kiểm chứng thực tế.
Sưu tầm: internet
Chữa tắc tia sữa với bài thuốc đông y
Đau vú tắc tia sữa là biểu hiện rất thường gặp ở sản phụ sau sinh. Biểu hiện đầu tiên là bầu vú căng to hơn so với bình thường, càng lúc càng to, có u cục ở bên trong, đau nhức, nóng, nhiều bà mẹ còn bị sốt cao, tia sữa bị tắc, vắt sữa cũng không ra, thường thấy ở một bên vú. Tắc tia sữa nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến áp-xe vú, rất nguy hiểm.
Nguyên nhân gây tắc tia sữa theo Đông y là do thấp nhiệt, do can phong làm cho kinh lạc bị trở trệ, huyết dịch lưu thoát không tốt, gây ứ đọng làm cho nhũ phòng bị cương tụ, tuyến sữa ách tắc, gây đau đớn, làm người mẹ không ăn uống, không ngủ được, đặc biệt là thiếu sữa cho em bé. Xin giới thiệu một số bài thuốc trị chứng này để chị em tham khảo.
Rau dừa nước là một vị trong bài thuốc đắp chữa tắc tia sữa.
Thuốc uống
Bài 1: Bồ công anh 20g, lá đinh lăng 20g, ngân hoa 10g, liên kiều 12g, huyền sâm 12g, bạch linh 12g, mộc thông 10g, trần bì 12g, hương phụ 12g, xuyên sơn giáp 2g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: thanh nhiệt, nhuyễn kiên, chống viêm, thông kinh lạc.
Bài 2: Thạch xương bồ 16g, kinh giới 12g, lá đắng 12g, đinh lăng 16g, hy thiêm 16g, xuyên sơn giáp 2g, bạch truật 16g, bạch linh 12g, hương phụ 12g, hoài sơn 16g, nga truật 12g, nhân trần 10g, mạch môn 16g, cát căn 16g, trần bì 10g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. Công dụng: trừ phong thông nhũ, giảm đau, tán kết.
Bài 3: Bạch thược 16g, bạch truật 16g, đương quy 12g, thục địa 12g, hương phụ 12g, đan bì 10g, chi tử 12g, hồng hoa 10g, tô mộc 16g, nga truật 16g, đan sâm 16g, kê huyết đằng 16g, đinh lăng 16g, bồ công anh 16g, thông thảo 5g, nam tục đoạn 16g, cam thảo 12g, trần bì 10g, đại táo 7 quả. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. Công dụng: tiêu viêm thanh nhiệt, tán kết, thông nhũ.
Thuốc đắp
Bài 1: Lá dấp cá, lá đinh lăng mỗi thứ một nắm. Cho hai thứ vào cối giã nhỏ, đắp tại chỗ rồi băng lại.
Bài 2: Lá tía tô, lá và ngọn rau dừa nước mỗi thứ 1 nắm, giã nhỏ, đắp tại chỗ và băng lại.
Bài 3: Lá bồ công anh, lá gấc mỗi thứ một nắm, giã nhỏ, trộn vào một chút rượu, đắp tại chỗ rồi băng lại. Công dụng: các bài thuốc đắp làm cho nhiệt độ tại đó giảm xuống, làm hết cương tụ, huyết mạch lưu thông, giảm đau nhức, thông tuyến sữa.
Cháo chân giò đinh lăng là món ăn tốt cho phụ nữ sau sinh bị đau vú, tắc tia sữa.
Một số món ăn hỗ trợ điều trị:
Bài 1: Cháo bí đỏ - thịt nạc: Gạo tẻ 100g, bí đỏ 150g, thịt nạc 100g, gia vị, rau thơm vừa đủ. Bí đỏ gọt vỏ thái miếng, gạo vo sạch, thịt nạc băm nhỏ trộn gia vị cho thấm. Cho bí đỏ và gạo vào nồi đổ nước nấu thành cháo, khi cháo chín cho thịt nạc vào nấu tiếp cho chín kỹ, nêm gia vị và rau thơm. Ăn nóng. Công dụng: chống viêm, lợi sữa, tăng tiết sữa.
Bài 2: Cháo chân giò - đinh lăng: Gạo tẻ 100g, móng giò lợn 1 cái, lá đinh lăng phơi khô 24g, gia vị vừa đủ. Móng giò lợn làm sạch, lá đinh lăng cho vào ấm đổ nước nấu sôi 15 phút, lọc bỏ bã lấy nước. Cho nước thuốc vào cùng gạo, móng giò hầm kỹ thành cháo. Khi cháo chín cho gia vị, ăn nóng. Công dụng: lá đinh lăng chống viêm, giảm đau. Móng giò bổ âm sinh thủy, lợi sữa. Gạo tẻ bổ tỳ, dưỡng cơ nhục. Món này phù hợp với sản phụ bị đau vú, sốt nhẹ, tắc tia sữa hoặc trường hợp sản phụ da xanh, gầy yếu, thiếu máu, cơ thể suy nhược, ăn uống kém…
Lương y: Trịnh Văn Sỹ
Theo: suckhoedoisong
"Vân Chi" loại nấm có tác dụng chữa HIV
Những tác dụng kỳ diệu của các loại thảo dược trong y học cổ truyền (đông y,Dong y). Từ ngày xưa các danh y đã tìm tòi và nghiên cứu tìm ra các loại thuốc chữa bệnh hiệu quả. Và phát hiện mới nhất về công dụng của loại nấm Vân Chi.
Nấm Vân Chi có tên khoa học là Trametes versicolor (Linnaeus :Fries) Pilat. Trước đây còn có các tên khác như Coriolus versicolor, Polyporus versicolor. Về hệ thống phân loại nấm này thuộc họ Polyporaceae, bộ Aphyllophorales, lớp Hymenomycetes, ngành Basidiomycota. Tên tiếng Anh là Turkey tails, tiếng Nhật là Kawaratake, tiếng Trung Quốc là Yun Zhi.
Đây là loại nấm dược liệu quý hiện đã được sử dụng tại Trung Quốc từ cách đây trên 2000 năm và hiện nay đã có thể nuôi trồng thành công với kỹ thuật đơn giản tại Việt Nam. Giống gốc hiện được lưu trữ tại Bảo tàng giống chuẩn vi sinh vật (VTCC) thuộc Trung tâm Công nghệ Sinh học, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Hình thái nấm Vân Chi là như sau: Mũ nấm không có cuống, dai, phẳng hoặc chỉ hơi quăn, hình gần như bán nguyệt. Mũ nấm thường mọc thành cụm, đường kính từ 1 đến 8cm, dầy khoảng 0,1- 0,3cm, có lông nhỏ trên bề mặt, có các vòng màu đồng tâm màu nâu, màu tro đen, màu trắng đục. Mép mỏng, uốn sóng. Thịt nấm màu trắng. Bào tử hình viên trụ, vô màu, kích thước 4,5- 7mm x 3- 5mm. Trong tự nhiên nấm Vân Chi thường mọc trên gỗ mục .
Trồng nấm Vân Chi tương tự như cách trồng Mộc nhĩ (Nấm mèo) hay nấm Sò (nấm Bào ngư) trên các túi màng mỏng chứa một trong các môi trường sau đây :
*Mùn cưa- 78%, cám gạo- 20%, đường cát- 1%, bột thạch cao- 1%
* Mùn cưa- 40%, bã mía- 40%, rơm nghiền- 20%
* Thân sắn (khoai mỳ) nghiền nhỏ- 80%, bột thạch cao- 20%
Trộn các nguyên liệu này với nước để có độ ẩm khoảng 60%. Nắm lại thấy nước vừa đủ ứa ra kẽ tay là thích hợp. Cho vào túi màng mỏng PP loại dày khoảng 5mm, kích thước 17 x 33cm hay 25 x 35cm. Mỗi túi đựng khoảng 250-300g nguyên liệu. Làm một miệng túi bằng 1 đoạn ống nhựa để luồn màng mỏng qua và nút bằng nút bông. Trước khi khử trùng cần bọc nút bông bằng giấy báo.
Khử trùng bằng hơi nước sôi như khi luộc bánh chưng, thường hấp trong 10 giờ, sau đó để qua đêm cho nguội hẳn mới lấy các bịch này ra.
Đưa vào phòng cấy giống và dùng giống mua tại các trung tâm cung cấp giống để cấy. Tại các tỉnh phía Bắc cần đặt kế hoạch cung cấp giống trước 3 tháng (liên hệ qua điện thoại 0913523578). Tại các tỉnh phía Nam cần đặt kế hoạch cung cấp giống trước 2 tháng (liên hệ qua điện thoại 0905543535).
Mở nút bông ra và cấy giống bằng thao tác vô trùng với thìa sắt hơ trên ngọn lửa đèn cồn. Lượng giống cấy thường từ 0,7-1% so với nguyên liệu. Để giống cấy được sâu vào trong túi nên chuẩn bị một cái dùi gỗ để có thể tạo ra một hình phễu khi ấn mạnh vào giữa khối nguyên liệu từ trên xuống.
Đậy nút bông lại và xếp các túi lên giá hay treo nối tiếp nhau bằng 3 sợi dây ni lông từ thanh tre (hay ống nước) treo ngang trên trần thả xuống, Luồn các bịch vào giữa 3 sợi dây rồi buộc lại phía trên và phía dưới. (giống như cách trồng Mộc nhĩ hay Nấm Sò).
Đợi đến khi sợi nấm mọc trắng hết bịch thì chuẩn bị rạch túi để nấm Vân Chi mọc ra. Điều kiện tốt nhất để sợi nấm mọc nhanh là giữ nhiệt độ phòng trong phạm vi 19-250C. Với các tỉnh phía Nam và vào mùa hè ở miền Bắc phải tạo tiểu không khí mát bằng phương pháp một đầu phòng đặt quạt hút gió loại công nghiệp, đầu phòng đối diện bơm nước từ giếng cho chảy trên một bức tường làm bằng chất xốp thấm nước (tham quan tại các trại lợn nuôi theo kiểu công nghiệp). Nếu có điều kiện dùng thiết bị điều hòa nhiệt độ thì càng tốt.
Hái nấm Vân Chi cả chùm, nhớ khoét hết chân để có thể mọc tiếp ra cụm nấm khác. Phơi khô và đóng túi. Giá thị trường trong nước là khoảng 400 000 đồng/kg nấm. Nếu có nhiều nấm Vân Chi để xuất khẩu sang Hồng Công thì giá tới vài triệu đồng/kg.
Tại sao Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều nước khác gần đây rất ưa chuộng nấm Vân Chi? Bởi vì các nhà khoa học tìm thấy trong nấm Vân Chi loại hợp chất đa đường PSK (polysaccharide loại Krestin) và loại đạm-đa đường PSP (polysaccharopeptid PSP) có tác dụng ức chế tế bào ung thư và nâng cao hoạt tính miễn dịch của cơ thể. Vì vậy người ta dùng nấm Vân Chi để chữa bệnh viêm gan do virút HBV và hạn chế quá trình phát triển của ung thư gan và nhiều loại ung thư khác. PSK (Krestin) được tách chiết lần đầu tiên ở Nhật Bản vào cuối thập kỷ 60, trong khi đó PSP được phân lập tại Trung Quốc vào năm 1983. Thành phần của các
chất PSK và PSP là tương đối giống nhau về mặt hóa học và có trọng lượng phân tử vào khoảng 100 kDa. Thành phần polypeptid của chúng có chứa một lượng lớn axit aspartic và axit glutamic. Thành phần polysaccharide thì được kết cấu bởi các mạch đường đơn monosaccharide được liên kết với nhau bởi các cầu nối α-(1-4) và β-(1-3) glucosid. PSK và PSP khác nhau chủ yếu ở chỗ PSK có chứa đường fucose và PSP thì chứa đường rhamnose và arabinose.
Ngoài ra cả hai còn chứa galactose, mannose và xylose. PSK và PSP có khả năng tăng cường hệ miễn dịch bằng cách tăng cường tính đặc hiệu của tế bào T và của các tế bào kháng nguyên như bạch cầu đơn nhân và đại thực bào. Hoạt tính sinh học được thể hiện ở khả năng làm tăng số lượng bạch cầu, khả năng sản xuất IFN-γ và IL-2 va làm trì hoãn các phản ứng quá mẫn. Đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra khả năng hoạt hóa tế bào và các thành phần thể dịch của hệ thống miễn dịch của vật chủ của PSK và PSP. Ngoài ra cả hai chất này còn có tác dụng kìm hãm sự phát triển của các dòng tế bào ung thư và có hoạt tính chống ung thư ở mức độ in vivo (Tzianabos. Clinical Microbiology Reviews. 2000; 13: 523-533). Điều đáng ghi nhận là vào năm 1987, chỉ riêng lượng PSK đã chiếm tới 25% tổng số dược liệu được sử dụng để chống lại bệnh ung thư ở Nhật bản.
Việc sử dụng thành công chất PSK trong điều trị các bệnh ung thư đầu, cổ, ung thư trực tràng và ung thư phổi cũng như ung thư vú đã được ghi nhận qua nhiều thử nghiệm lâm sàng trong vòng vài thập kỷ gần đây. Phần lớn các thử nghiệm y học sử dụng chất PSK được tiến hành ở Nhật Bản. PSK đã được sử dụng dưới dạng điều trị miễn dịch cho rất nhiều bệnh nhân bị ung thư dạ dày nhiều hơn là cho các bệnh nhân bị các loại bệnh ung thư khác.
Đầu những năm 1970 nhóm nghiên cứu của Kaibara đã tiến hành thử nghiệm dùng PSK để điều trị cho bệnh nhân bị ung thư ở giai đoạn 4 song song với phương pháp hóa trị liệu. Sau khi được phẫu thuật cắt bỏ phần ung thư, bên cạnh chế độ hóa trị liệu Mitomycin C và 5-fluorouracil (5-FU) 66 bệnh nhân được điều trị bổ sung 3 g PSK mỗi ngày. Tỉ lệ sống của các bệnh nhân này trong 2 năm là tăng gấp đôi so với các bệnh nhân không được điều trị bằng PSK (Kaibara và cộng sự. Japanese Journal of Surgery. 1976; 6: 54-59). Nghiên cứu sau đó của Fujimoto và các cộng sự vào năm 1979 (Japanese Journal of Surgery. 1979; 3: 190-196) với một số lượng bệnh nhân lớn hơn (n=230) cũng cho kết quả tương tự. Các nghiên cứu tiếp theo của Hattori và cộng sự. (Japanese Journal of Surgery. 1979; 9: 110-117) (n=110) và Kodama cùng các cộng sự (Japanese Journal of Surgery. 1982; 12: 244-248) (n=450) chỉ ra rằng chất PSK có thể bảo vệ chống lại ức chế miễn dịch mà thường bị liên quan với quá trình phẫu thuật hoặc hóa trị liệu dài hạn. Tóm lại việc sử dụng PSK kết hợp với chế độ hóa trị liệu thông thường đã cải thiện rõ rệt tỉ lệ sống và khỏi bệnh (Nakazato và cộng sự. Lancet. 1994; 343: 1122-1126).
Gần đây có nhiều nghiên cứu về việc dùng chất PSK cùng với các chế độ như hóa trị liệu, xạ trị liệu và miễn dịch trị liệu để cải thiện tỉ lệ sống của các bệnh nhân bị ung thư thực quản (Ogoshi và cộng sự. Cancer Investigation. 1995; 13: 363-369) và ung thư mũi-hầu (Go và Chung. Journal of International Research. 1989; 17: 141-149). Công ty Sankyo, Kureha tại Nhật Bản đã đưa ra trên thị trường sản phẩm Krestin từ năm 1977 với giá 1000 Yên cho một gói 1g. Thuốc có tác dụng điều trị các loại ung thư đường tiêu hóa, ung thư phổi và ung thư vú.
Trong khi việc phát hiện và thử nghiệm chất PSK được tiến hành chủ yếu ở Nhật Bản thì chất PSP tách chiết từ nấm Vân Chi là sản phẩm của Trung Quốc và hiệu quả an toàn của sản phẩm này đang tiếp tục được các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu về ung thư điều tra và đánh giá. Kể từ lần phát hiện đầu tiên vào năm 1983 đến nay đã có rất nhiều tiến bộ đáng kể trong các thử nghiệm lâm sàng trên cơ thể con người. Giai đoạn I thử nghiệm lâm sàng được tiến hành bởi Xu (PSP International Symposium Anthology of Theses and Abstracts. 1993; 179-182) và kết quả là việc uống 6 g PSP một ngày cho kết quả tốt và không gây ảnh hưởng phụ
Các bệnh nhân thấy ngon miệng và cải thiện tình hình chung cùng với việc bình ổn các chỉ số tạo máu. Giai đoạn II của nghiên cứu về PSP được tiến hành bởi nhóm nghiên cứu Thượng Hải ở 8 bệnh viện ở Thượng Hải trên các bệnh nhân bị ung thư dạ dày, ung thư phổi và ung thư thực quản. Hơn 300 bệnh nhân tại bệnh viện Thượng Hải đã được điều trị bằng xạ trị liệu hoặc hóa trị liệu phối hợp với việc sử dụng PSP. Kết quả cho thấy các biểu hiện lâm sàng cũng như các chỉ số về máu và miễn dịch của các bệnh nhân được cải thiện rõ rệt. Giai đoạn III thử nghiệm trên một số lượng lớn bệnh nhân (600 người). Các nghiên cứu này chỉ ra rằng PSP có tác dụng bảo vệ các chức năng của hệ miễn dịch ở các bệnh nhân được điều trị một cách thường lệ.
Nhiều nghiên cứu cho thấy nấm Vân Chi có cả tác dụng ức chế HIV (W.Adriaan Smith ; http://www.naturalmedicine.co.za). Các nghiên cứu in vitro đã chỉ ra rằng chất PSP có thể có tác dụng hữu ích chống lại sự nhiễm virus tuýp 1 HIV-1 (Collins và Ng. Life Sciences. 1997; 60: PL383-387). Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra khả năng của PSP làm ngăn cản sự kết hợp của virus HIV-1 với tế bào chủ. PSP cũng có khả năng kìm hãm cao chống lại quá trình phiên mã ngược của virus HIV-1 ở mức độ in vitro. Sản phẩm CoriolusVPS chiết xuất từ nấm Vân Chi chứa 36% beta 1-4,1-3,1-6 glucan (protein-bound polysaccharide) của Hãng Mushroomscience (Fax : 541-344-3107) có giá mỗi hộp tới 59,95USD (chứa 90 viên nang, loại 625mg). Theo US Patent số 4 202 969 thì thuốc này có chứa 42-43% carbohydrate hòa tan (91-93% là betaglucan), 28-35% là protein (amino acids), 6-7% chất tro (ash) và có độ ẩm là 7-7,6%. Sản phẩm đóng chai mang nhãn hiệu Trametes (http://www. oftheearth.co.uk) của Anh (8 oz., khoảng 227g) đắt tới 50 USD. Thuốc này được quảng cáo có tác dụng kích thích miễn dịch, chống virut viêm gan, phòng và chữa ung thư, chống nhiễm khuẩn đường hô hấp, đường tiết niệu và đường tiêu hóa.
Tác dụng chữa ung thư phổi còn được chứng minh trong công bố gần đây của K.W.Tsang và cộng sự (Respir. Med.2003 ; 97 :618-624). Thuốc mang thương hiệu I’m-Yunity của Công ty Winsor Health Products (http://www.shen-nong.com) chứa các viên nang 60 hay 100 viên nang (400mg) mang sản phẩm của dịch chiết sợi nấm Vân Chi được xác định là có tác dụng nâng cao năng lực miễn dịch của cơ thể. Các tổn thương ở gan và tỉ lệ chết ở những con chuột bị tiêm virus cúm là giảm đáng kể khi chúng được điều trị bằng các chất polysaccharopeptide nội bào được chiết xuất từ nấm Vân Chi (Chen và cộng sự. Kangshengsu. 1986; 11: 390-395). Năm 1996 Dong và các cộng sự đã quan sát thấy các polysaccharide của nấm Vân Chi có khả năng kìm hãm sự tăng sinh của dòng tế bào ung thư gan (HEPG2) ở người, tuy nhiên không kìm hãm được ở tế bào gan của phôi thai người (Dong và cộng sự. Res Commun Mol Pathol Pharmacol. 1996; 92: 140). Nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng ngoài tác dụng chống lại virus PSP còn có hiệu quả trong việc bảo vệ gan khỏi các độc tố gan ở các vật nuôi thí nghiệm và làm giảm độc tố. Một vài cơ chế được nêu ra cho hiệu quả bảo vệ gan, trong đó có việc gắn kết trực tiếp của PSP vào tác nhân độc tố. PSP cũng có thể khởi động sự hình thành lại các chức năng tạo máu ở các con chuột bị chiếu xạ. Tại Đại học Seoul (Hàn Quốc) hiệu quả của dịch chiết xuất Vân Chi đối với ung thư gan cũng được nghiên cứu khá kỹ với nhóm các nhà khoa học của GS. Byong Kak Kim (http://www. begellhouse.com/journals). Các nghiên cứu về việc ứng dụng nấm dược liệu Vân Chi không dưới 400 công trình đã được đăng trên các tạp chí quốc tế (http://www.mushroomscience.com).

Tại Trung Quốc có rất nhiều nghiên cứu chứng minh dịch chiết xuất nấm Vân Chi có tác dụng ức chế 40-95% đối với sự tăng trưởng của tế bào ung thư, trong khi đó lại không thấy có tác dụng phụ nào đáng kể (Lâm Thụ Tiền chủ biên,Trung Quốc dược dụng khuẩn sinh sản dự sản phẩm khai phát, Trung Quốc Nông nghiệp xuất bản xã, 2001). Trong các năm 1975-1979 công trình nghiên cứu của các nhà sinh học tại Đại học Sư phạm Đông Bắc đã chứng minh sản phẩm Vân Chi Can Thái của Xí nghiệp dược phẩm Trường Xuân có tác dụng rõ rệt trong việc điều trị bệnh viêm gan mạn tính do virut HBV.
Năm 1981 Viện nghiên cứu kháng sinh Tứ Xuyên đã dùng sản phẩm nuôi cấy chìm sợi nấm Vân Chi để chiết xuất polysaccharide nội bào và ngoại bào và phối hợp với Xí nghiệp Dược phẩm Trùng Khánh để sản xuất ra thuốc Vân Tinh dùng để điều trị viêm gan do virut HBV và ung thư gan nguyên phát, đã đạt được hiệu quả tốt. Xí nghiệp Dược phẩm Lão Sơn ở Nam Kinh đã chiết xuất polysaccharide từ nấm Vân Chi để chế tạo ra viên nang Vân Chi đa đường dùng để điều trị viêm gan B mạn tính và ung thư gan. Xưởng Đông dược Thượng Hải nuôi trồng nấm Vân Chi từ bã mía và chiết xuất ra polysaccharide dể tạo thành thuốc Vân Chi khuẩn dùng để điều trị bệnh viêm gan B mạn tính.
Sở nghiên cứu nấm thuộc Viện Khoa học nông nghiệp Thượng Hải đã chiết xuất polysaccharide của nấm Vân Chi và phối hợp với xí nghiệp dược phẩm sản xuất ra thuốc Vân Chi đa đường CVP để điều trị cho bệnh nhân viêm gan B. Năm 1993 các nhà sinh học ở Đại học Sư phạm Thượng Hải đã dùng phương pháp nuôi cấy chìm để thu nhận sợi nấm Vân Chi và phối hợp với Xí nghiệp Dược phẩm Tân Khang để sản xuất ra thuốc Polysaccharopeptid PSP ứng dụng trong lâm sàng, phối hợp với các biện pháp phẫu thuật hoặc hóa trị để điều trị ung thư phổi, ung thư đường tiêu hóa và ung thư vú.
Ngoài hai chất PSK và PSP, Yang cùng các cộng sự (Am J. Chin. Md. 1992; 20: 221-232) đã tách chiết được một loại peptide khác từ dịch chiết thô của polysaccharopeptide từ nấm Vân Chi. Chất peptide này có hoạt tính chống ung thư cao hơn so với PSK và PSP và có tác dụng tiềm năng với hệ miễn dịch (tăng cường số lượng bạch cầu và lượng IgG ở chuột). Chất peptid này có độc tính đối với các dòng tế bào ung thư trong các thí nghiệm in vivo ở chuột (Jang và Chen. US Patent 5,824,648. 1998).
Trung tâm nghiên cứu Công nghệ sinh học ĐH Quốc gia Hà Nội đang xây dựng phân xưởng lên men với các nồi lên men có điều khiển tự động để triển khai hướng nghiên cứu tách chiết dược phẩm từ sinh khối nấm Vân Chi. Hy vọng sẽ nhận được sự cộng tác của các Xí nghiệp Dược phẩm trong một tương lai không xa.
Theo VietSciences









